Lượt truy cập

Online:
53
Today:
Visitors:

CĂN HỘ CC

VILLA/NHÀ PHỐ

VĂN PHÒNG

THƯƠNG MẠI

Một chỗ để mộng mơ

11/07/2014
Để nghĩ xem những con số và tôi có duyên nợ thế nào. Tôi chào đời vào tháng 7 năm 1957. Ở phương Tây, số 7 là số thiêng liêng, bí ẩn, nhưng ở phương Đông thì con số đó không hay. 7 là “thất”, đồng âm với mất mát thua lỗ, lại là số lẻ, mùng 7 tháng 7 là ngày mưa...

Để nghĩ xem những con số và tôi có duyên nợ thế nào. Tôi chào đời vào tháng 7 năm 1957.  Ở phương Tây, số 7 là số thiêng liêng, bí ẩn, nhưng ở phương Đông thì con số đó không hay. 7 là “thất”, đồng âm với mất mát thua lỗ, lại là số lẻ, mùng 7 tháng 7 là ngày mưa dầm vì nước mắt của lứa đôi bị chia lìa! Những ngôi nhà tôi từng ở đều có số 9 (179 Trần Tuấn Khải, 195 Nguyễn Tri Phương, 2619 Iron street). Người Hoa coi số 9 là hên, nó đồng âm với bền bỉ lâu dài, nên nhà mà có số 9 thì được giá. Nhưng người Nhật lại không thích, vì đồng âm với số 9 trong tiếng Nhật là đau thương; người ta không thích sống ở một nơi mà ngày ngày ra vô đều nhìn thấy nỗi ám ảnh đau thuơng! Dù sao thì đó là những con số tôi không hề lựa chọn. Do ngẫu nhiên (hay định mệnh), tôi ra đời ngày đó và sống qua những nơi đó.

 

Đi học, tôi dở nhất môn toán. Vì một trục trặc gì đó (có lẽ trong não bộ), tôi luôn nhầm lẫn những con số. Dù học thuộc lòng bảy lần bảy bốn chín, biết rõ rành rành bảy lần bảy bốn chín, mà khi đọc bảng cửu chương trước lớp, tôi cứ đọc bảy lần bảy chín bốn. Biết ngay mình đọc sai nên ráng đọc lại, rồi cứ vấp qua vấp lại chín bốn, bốn chín, chín bốn, lịu cả lưỡi, rồi quên béng khúc đuôi. Bây giờ mà hỏi bảy lần tám bao nhiêu, tôi phải nghĩ cẩn thận mới dám nói là năm sáu (đúng không?). Nhớ lần đó cô giáo bắt về học lại, chừng nào thuộc làu làu mới lên trả bài. Tôi lảm nhảm bảng cửu chương suốt ngày rồi tự tin lên đứng trước bảng đọc ro ro: bảy lần một là bảy, bảy lần hai là hai, bảy lần ba là ba. Bởi vậy lớn lên tôi trở thành nhà văn. 

 

Biết làm sao. Trời sanh tôi là người mơ mộng. Tôi mơ mộng từ hồi còn nhỏ xíu. Không nhớ từ lúc mấy tuổi. Chỉ nhớ là còn ở tuổi chơi đánh đũa và nhảy cò cò. Khi nhảy cò cò qua hết bảy ô vuông, mình xoay lưng lại, thảy chàm qua vai, chàm rớt xuống ô nào thì mình được cất nhà ở ô đó. Ô nào có “nhà” rồi, người chơi khác không thể cò cò vô, còn chủ “nhà” thì được quyền “bẹp”, thả cả hai bàn chân xuống nhà mình xả hơi. Luật chơi cò cò thời thơ ấu đã gieo mầm trong tôi ý thức ban sơ về chủ quyền một không gian (tượng trưng) mà mình gọi là nhà.

 

 

Ô “nhà” trong trò chơi cò cò không phải là một không gian để sống hay một tài sản có thể chuyển nhượng – mà là không gian mơ mộng. Trong cái ô “nhà” của mình, người chơi thường đánh dấu bằng cách quẹt quẹt mấy nét ngoằn ngoèo hay xiên xẹo. Tôi không bao giờ làm vậy. Ô “nhà” của tôi có những đường cong song song ở bốn góc, đó là rèm cửa sổ. Có những vòng tròn nhỏ kết với nhau quanh một vòng tròn lớn, đó là hoa. Có những hình vuông, hình chữ nhật được coi như bàn ghế giường tủ. Có khi tôi vẽ một gương mặt trong ô “nhà” mình, đó là tôi.  

 

Có dịp quan sát một kiến trúc sư làm việc, tôi nhận ra chỗ giống nhau giữa anh ta và cô bé vẽ nhà trong ô cò cò. Trên mặt bàn trải những tấm giấy trắng, anh vẽ ra chi tiết từ những bậc thềm đến cây cột, hồ nước và hoa cỏ, cửa sổ và cả ánh sáng tràn vào… Chắc là anh tưởng tượng một phụ nữ duyên dáng dọn dẹp nấu nướng ru con… trong không gian ấy để đặt cái giường trẻ con chỗ này, mở khung cửa sổ phía trên cái chậu kia. Trông anh giống như tôi-còn-bé vẽ vời trên mặt đất mịn, say sưa với thế giới trong đầu mình. Chỉ khác là kiến trúc sư vẽ / trình bày / giải mã những hình ảnh mơ mộng để chúng được biến thành hiện thực. Còn tôi vẽ vời mơ mộng chỉ để mộng mơ.

 

Tôi không biết não trạng của người khác có giống tôi không, tức là có nhu cầu mơ mộng không. Phần lớn thì giờ của tôi dành cho mơ mộng. Trong nhật ký thưở mười mấy đôi mươi, tôi đã viết không biết bao nhiêu câu có chung đại ý tự nhiếc móc mình cứ lãng phí thời gian vào những mơ mộng viển vông, ngày này qua ngày khác. Nhưng hiếm có ngày nào tôi ghi lại cụ thể tôi đã mơ hay đang mơ điều gì. Bây giờ già rồi, đọc lại cũng khó đoán là tuổi đôi mươi tôi đã mơ một tình yêu, một cuộc phiêu lưu đến những chân trời xa lạ, một tương lai huy hoàng rạng rỡ, một kỳ tích văn học hay thành tựu nghệ thuật. Có lẽ lúc ngồi viết lại là lúc tôi đã ra khỏi cơn mơ. Và ở ngoài cõi mơ mộng, người ta phải tỏ ra mình có “lý trí”, không nhắc tới những hình ảnh hoang đường.

 

Ngay trong khi đang mơ mộng, tôi cũng ý thức là ý tưởng này viển vông. Đôi khi ý thức đó khiến mình đau lòng, hoặc cay đắng. Tôi không biết kiến trúc sư có thường vẽ ra những ngôi nhà, những kiến trúc từ mơ mộng của mình, vẽ trong ý thức là mình không có đủ điều kiện xây dựng chúng, và có thể chẳng ai muốn thực hiện kiến trúc trong mơ của mình? Anh ta làm gì với những bản vẽ đó? Anh có tiếc thời gian đã bỏ ra để vẽ? Tôi cũng chưa có dịp hỏi một kiến trúc sư rằng, khi ngôi nhà được xây đúng như anh mơ, tức là những mộng mơ của anh trở thành hiện thực sờ mó được, và được (chính anh hay người khác) sử dụng, “sống thực” trong cái từng là hình ảnh mộng mơ, thì anh cảm thấy ra sao?

 

Hạnh phúc của tôi là ở chỗ tôi không phải kiến trúc sư. (Học toán dở quá mà!). Vẽ vời một ngôi nhà, một vườn rau, một cái gác chuồng trâu, một căn chòi văn… xong là tôi quăng tờ giấy đi – nó thường rối rắm những đường nét lằng nhằng, chẳng những không ai hiểu mà chính tôi sau đó xem lại cũng không chắc hiểu, vì tôi không tuân theo những quy ước vẽ trong kiến trúc, chẳng có tỷ lệ, chẳng biết phối cảnh, chẳng bận tâm hai ba hay bốn năm chiều không gian gì cả. Khi mơ xong ngôi nhà của mình, tôi thỏa mãn, bản vẽ không nghĩa lý gì nữa.

 

Khi vẽ nhà trong ô cò cò, tôi-còn-bé chắc chưa có cái khao khát hay chí hướng biến mộng mơ thành hiện thực. Chắc cũng chưa coi đó là một cách thoát ly thực tại, càng không biết đến sáng tác nghệ thuật. Vẽ vời mơ mộng là một phần trò chơi, là niềm vui, sự thích thú mà đứa bé đã hồn nhiên hưởng thụ. Đến tận bây giờ, thỉnh thoảng tôi vẫn ngồi với một tờ giấy và cây viết chì, vẽ vẽ xóa xóa, thả hồn mơ mộng về một chốn để mộng mơ. Có lẽ đứa bé vẽ nhà trong ô cò cò vẫn trốn đâu đó trong tôi, thỉnh thoảng nắm tay tôi lôi về thế giới của nó.

 

Ủa, tôi định viết về những con số mà! Thiết kế một công trình kiến trúc ắt phải biết những con số nào kiêng kỵ trong xã hội nào, chẳng hạn cao ốc ở Mỹ không có tầng 13, còn cao ốc ở Hồng Kông không có tầng 4. Bên Tàu, số nhà cũng như số xe số điện thoại mà được 888 là tuyệt vời. Còn gì nữa? Thật may là tôi bị rối loạn về số. Nên vẫn còn một chỗ để mộng mơ.

 

 

Lý Lan

 KTNĐ tháng 1-2013